Youtube Facebook Yahoo Skype
NUTRIFIT Quỳnh Liên

BIAFINE

Ngày xuất bản: 28-02-2014 | Chưa có bình luận

Bao bọc cơ thể của chúng ta, da là một cơ quan đảm nhận nhiều chức năng quan trọng và cũng là cơ quan chịu nhiều tấn công từ bên ngoài: cơ học, hóa học, nhiệt. các tác nhân này gây ra các tổn thương da: tùy theo nguyên nhân mà sẽ có các đặc trưng riêng về cơ chế bệnh sinh.

Nói chung, tổn thương được xếp loại tùy theo bề dày da:

–  Vết thương nông

–  Vết thương sâu một phần bề dày da

–  Vết thương sâu toàn bộ bề dày da

ĐIỀU TRỊ VẾT THƯƠNG

Mục tiêu điều trị của bác sĩ là làm thế nào để việc sữa chữa các cấu trúc và phục hồi chức năng của da được hoàn hảo nhất và sớm nhất nhũ tương bôi ngoài da

THÀNH PHẦN

  •  Nước tinh khiết 75%
  • Thành phần tan trong nước 5% trolamin, alginat trolamin và natri algina chất bảo quản
  • Thành phần lipid 20%

Ethylenglycol stearat

Acid stearic

Cetyl palmitat

Parafin rắn

Parafin lỏng

Perhydrosqualen

Propylen glycol

Dầu quả lê tàu

Hương thơm

CƠ CHẾ TÁC DỤNG CỦA BIAFINE

  •  Giúp nước tinh khiết thấm sâu, điều chỉnh rối loạn nước và điện giải cùng các hậu quả của nó tại vùng tổn thương, hạn chế tổn thương lan rộng.
  •  Tạo điều kiện tối ưu cho việc lành vết thương
  •  Tác động lên cả 3 giai đoạn của quá trình lành vết thương:

           –   Làm sạch vết thương

           –   Mọc mô hạt

           –   Tái tạo biểu bì

ĐIỀU KIỆN TẠI CHỖ LÝ TƯỞNG ĐỂ VẾT THƯƠNG LÀNH TỐT

  • Độ ẩm bề mặt vết thương
  • Làm sạch
  •  Bảo vệ về cơ học: Mỗi chấn thương ở vết thương làm tan rã collagen và fibrin, Việc thay băng phải thực hiện  như thế nào để không gây tổn thương mô hạt/biểu mô mới được tạo thành
  •  Tưới máu: thiếu máu nuôi sẽ cản trở quá trình lành vết thương và vết thương dễ bị nhiễm khuẩn  vết thương càng xa tim, việc lành sẹo càng chậm
  •  Nhiễm khuẩn

1.  Cung cấp nước cho vùng da bị tổn thong

–    Các vùng da bị tổn thương, đặc biệt là do bỏng đều có sự mất nước đáng kể. điều này làm trầm trọng thêm các rối loạn điện giải và ứ đọng mao mạch sẵn có làm tổn thương lan rộng.

–    Việc bôi biafine loại bỏ cô đăc máu có ở các mô hoại tử.

–    Biafine tái thiết lập cân bằng nước và bình thường hóa áp suất thẩm thấu, làm mềm các mô hoại tử.

2.  Hồi phục áp lực thẩm thấu tại chỗ

–    Tại các mô bị hoại tử, sự tăng áp lực thẩm thấu của môi trường ngoại bào gây trạng thái mất nước nội bào và làm tăng nồng độ na nội bào, tình trạng này đẩy nhanh quá trình hoại tử thêm tế bào. hơn nữa, hiện tượng tăng áp lực thẩm thấu cũng ảnh hưởng đến tính mềm dẻo của các hồng cầu tạo ra sự vón hồng cầu trong các mạch.

–    Biafine dưới dạng nhũ tương có đặc tính nhược tạo được sự phục hồi môi trường thẩm phân nội và ngoại tế bào, loại bỏ tình trạng cô đặc máu, phục hồi tính mềm dẻo của hồng cầu.

3.  Tác dụng tẩy rửa, dẫn lưu giúp làm sạch vết thương

–    Với các thành phần acid stearic và trolamin, biafine là một xà phòng mềm có ph 6,8-7,6 do đó biafine có tác dụng tẩy rửa rất tốt làm mủn và loại bỏ các mô hoại tử.

–    Tác dụng làm ẩm làm mềm mô hoại tử

–    Tác dụng mao dẫn và thẩm thấu của nhũ tương dầu trong nước giúp các mô hoại tử dễ dàng được dẫn lưu ra ngoài..

–    Làm tăng số lượng đại thực bào đến vết thương

Hỗ trợ cho hiện tương tự tiêu giúp làm sạch vết thương một cách tự nhiên. vai trò này đặc biệt quan trọng trong trường hợp tổn thương do bỏng, hoạt động của các men bị vô hiệu hóa , tác động làm sạch vết thương chỉ còn nhờ vào hoạt động của các thực bào

–    Khả năng cơ thể tự làm sạch vết thương:

     –    Men ly giải protein và các tế bào như đại thực bào.

     –    Chỉ hoạt động có hiệu quả trong môi trường ẩm và mô hoại tử được làm ẩm đầy đủ sẽ để cho các men tại chỗ hoạt động một cách hiệu quả.

–   Biafine: là một savon mềm có tác dụng tẩy rửa rất tốt + cung cấp môi trường ẩm + làm tăng số lượng đại thực bào đến vết thương hỗ trợ cho hiện tương tự tiêu giúp làm sạch vết thương một cách tự nhiên. vai trò này đặc biệt quan trọng trong trường hợp tổn thương do bỏng, hoạt động của các men bị vô hiệu hóa , tác động làm sạch vết thương chỉ còn nhờ vào hoạt động của các thực bào

–   Rroy camille (1986) – bệnh viện pitie-salpetriere: nghiên cứu lâm sàng thử nghiệm tác dụng tẩy rửa-dẫn lưu của biafine trên 70 bệnh nhân có các vết thương, vết loét các loại: tác dụng làm sạch vết thương đạt 95% với thời gian trung bình là 10 ngày. sự làm sạch vết thương bằng tác dụng tẩy rửa và dẫn lưu tại chỗ tạo thuận lợi cho quá trình liền vết thương.

4.  Tăng lượng máu đến vùng da bị tổn thương

–   Các tổ chức bị tổn thương có hiện tượng co thắt các động mạch nhỏ, mở các thông động-tĩnh mạch, tăng tuần hoàn tĩnh mạch để bù đắp lại hiện tượng thoát huyết tương. tình trạng thiếu oxy kéo dài, sự ứ đọng các sản phẩm chuyển hóa liệt khả năng co dãn mạch và điều chỉnh các thông động tĩnh mạch. lưu lượng tuần hoàn máu tại vùng bị chấn thương chậm cùng với trạng thái giảm tính mềm dẻo của hồng cầu và máu cô tạo ra các huyết khối nhỏ  tắc các vi mạch  làm cho quá trình hoại tử mô tiến triển. vì thế, với tác dụng làm tăng lưu lượng tuần hoàn máu ở da, biafine tạo được sự nuôi dưỡng tại chỗ tốt, thuận lợi cho quá trình phục hồi của mô tế bào bị tổn thương.

Tuyển các đại thực bào đến chỗ tổn thương, tác động lên cả 3 giai đoạn của quá trình lành vết thương

–   Giai đoạn viêm: giúp loại bỏ mô hoại tử, làm sạch vết thương

–   Pha tăng sinh: kích thích sự tăng sinh và hoạt động của các nguyên bào sợi, tế bào chịu trách nhiệm sản xuất nhiều chất liệu ngoại bào, như collagen, thiết yếu cho việc lành sẹo.

–    Pha biểu bì hoá: chính việc tăng sinh nguyên bào sợi sẽ đẩy mạnh việc nhân lên và tăng trưởng của tế bào biểu mô thông qua các chất trung gian hóa học như yếu tố tăng trưởng nguyên bào  sợi (fgf) và yếu tố tăng trưởng từ đại thực bào (mdgf)

–    Biafine không có chứa chất sát khuẩn nhưng những thí nghiệm về sinh học cho thấy các chủng như trực khuẩn e.coli, tụ cầu, trực khuẩn mủ xanh nấm candida, aspergilus khi cho vào thuốc biafine chúng không phát triển được và số lượng chúng bị giảm đi rất nhiều (technibio 1988) và với ph 6-7, thuốc biafine cũng có tác dụng ức chế sự sinh trưởng của một số vi khuẩn.

Hiệu quả của biafine càng cao khi dùng thuốc càng sớm

  •  Duy trì môi trường ẩm tại chỗ
  •  Tẩy rửa, dẫn lưu làm sạch vết thương
  •  Tăng lưu lượng vi tuần hoàn
  •   Bảo vệ vết thương về mặt cơ học
  •   Bảo vệ vết thương chống ngoại nhiễm

Biafine tác động lên cả 3 giai đoạn trong quá trình lành vết thương

  •   Làm sạch vết thương: nhũ tương savon hóa, dẫn lưu, làm ẩm, hoạt hóa đại thực bào (giai đoạn viêm)
  •    Kích thích tạo mô hạt và tái tạo biểu bì (giai đoạn tăng sinh)
  •    Hạn chế sẹo co rút cũng như phì đại

BĂNG BÁN BÍT

CÁC THUẬN LỢI KHÁC

  •   Dễ thoa và dễ rửa
  •    Hấp thu dịch tiết: dịch tiết dễ dàng trộn lẫn với biafine
  •    Loại bỏ mùi khó chịu
  •    Không làm tổn thương mô mới tạo thành
  •    Không chảy máu khi tháo bỏ băng
  •    Thay băng không đau vì băng không dính vào vết thương
  •    Sự thoải mái của bệnh nhân: giảm đau khi di chuyển và thay băng, thúc đẩy sự di chuyển của bệnh nhân

–    Đôi khi băng bán bít có thể sử dụng thay thế việc cắt lọc bề mặt để giảm bớt nguy cơ thành sẹo.

–    Có vẻ sẹo phì đại dưới băng biafine sẽ kém phát triển hơn so với băng quy ước, vì thời gian biểu bì hóa ngắn hơn và tốc độ của việc lành sẹo tỉ lệ ngịch với tần suất bị sẹo phì đại.

GIÚP VẾT THƯƠNG MAU LÀNH

–    Làm ẩm sâu và bình thường hóa áp suất thẩm thâu tại chỗ

–    Băng bán bít hình thành một môi trường thuận lợi cho việc lành vết thương

–    Tác động làm sạch vết thương và dẫn lưu

–    Tăng lưu lượng máu đến da

–    Tác động lên đông máu làm giảm sự hình thành các cục máu đông và các vảy

–     Bảo vệ vết thương chống ngoại nhiễm

Comments are closed.